Chó trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam

Là con vật rất thân quen, thân thiện, thông dụng, lại linh động, vui nhộn, ngộ nghĩnh và giàu ý nghĩa hình tượng, chó ( cẩu, khuyển, lang ) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ bình dị, thoáng đãng mà thâm thúy của người Nước Ta …

* Anh em cọc/cột chèo như mèo với chó:

Quan niệm những đồng đội cùng làm rể một nhà thường ganh ghét, không mấy ưa nhau .

* Ăn ở như chó với mèo: Sống không hòa hợp, nhiều mâu thuẫn với nhau.

* Ăn cùng chó ló xó cùng ma: Giao lưu với người xấu sẽ dễ bị nhiễm, học theo những thói xấu của họ.

    * Bán gà ngày gió, bán chó ngày mưa: Nên bán hàng vào những thời điểm thích hợp, được giá cao nhất.

* Bẩn như chó: 1. Rất bẩn thỉu; 2. Bủn xỉn, keo bẩn, ích kỷ, hẹp hòi.

* Bọ chó múa bấc: Không có tài cán mà học đòi, phô trương thanh thế, làm việc quá sức mình nên thường không thành công, bị chế nhạo, khinh bỉ.

* Bóp chó đá vãi phân: 1. Đối xử quá hà tiện, khắt khe, khắc nghiệt; 2. Cho vay với lãi suất quá cao; 3. Bóc lột tàn nhẫn.

* Bơ vơ như chó lạc nhà: Thất thểu, cô độc, mệt mỏi và không xác định được việc cần làm, nơi cần đi, cần đến.

* Bụng đói chó sói bỏ rừng: Phải từ bỏ, hy sinh những gì thân thiết do nguy cơ hoặc nhu cầu cấp bách.

* Buôn phân bán cho chó: Miệt thị người không biết làm ăn buôn bán và thường hay bị lỗ.

* Cẩu khẩu nan sinh xuất tượng ngà: Miệng chó không thể mọc ngà voi, cũng như từ nền tảng những tiêu cực, xấu kém khó thể hình thành nên những điều tích cực, cao đẹp.

* Chạy rông như chó dái: Lang thang tìm kiếm suốt ngày, như chó đực tìm bạn tình mùa động dục.

* Chó ăn đá/đất, gà ăn sỏi/muối: Thuộc nơi đất đai trơ trọi, cằn cỗi và nghèo nàn.

     * Chó ăn trứng luộc: Vớ bở và dễ dàng ngoài trí tượng tượng của người đời.

     * Chó ăn vụng bột: Hành vi lấm lét, sợ sệt, hoảng loạn, được biểu hiện rõ rành rành, không che giấu nổi.

     * Chó cái trốn/bỏ con: Người mẹ không yêu chiều, mặn mà, thiết tha gì với con mình.

     * Chó ba quanh mới nằm, người ba năm mới nói: Khuyên răn người ta trước khi nói phải suy nghĩ kỹ.

     * Chó bỏ giỏ cua: Lâm vào cái thế bị kìm kẹp, chịu ép nhiều bề, khó đường tháo gỡ.

* Chó càn cắn/rứt dậu: Làm liều, thiếu cân nhắc khi bị đẩy tới bước đường cùng, không còn cách nào khác.

     * Chó cắn áo rách/Chó sủa ăn mày/Đã khó chó cắn thêm: Đã khó khăn, khổ sở cùng cực lại còn gặp tai họa, rủi ro.

     * Chó cắn ma: Cằn nhằn, dai dẳng như chó sủa đêm khi phát hiện có bóng người ẩn hiện vu vơ.

     * Chó cắn trộm: Hành động xấu, độc ác được thực hiện lén lút và bất ngờ.

* Chó cắn xe, xe cán chó: Xung đột, đối nghịch, đánh giết lẫn nhau.

     * Chó (dại/dữ) cắn càn: Hung hăng, liều lĩnh làm bừa, không đủ tỉnh táo để suy tính thiệt hơn.

     * Chó cậy (gần) nhà, gà cậy (gần) chuồng/vườn: Ỷ thế thuận lợi của mình mà hung hăng, dọa nạt, bắt chẹt người khác.

* Chó chạy bờ rào, chuột chạy bờ ao: Địa điểm, môi trường hoạt động đặc trưng, quen thuộc hoặc thuận lợi.

     * Chó chạy đường cùng: Không còn đường xoay trở nên thường dẫn đến làm liều, không suy tính.

     * Chó chạy hở đuôi/Chó nằm lòi lưng: 1. Thuộc chân ruộng xấu, lúa không mọc tốt được, ít lá, như con chó chạy trong ruộng lúa thì còn bị hở đuôi; 2. Không giữ nổi bí mật khi hoạt động.

     * Chó chê cơm/phân nát: Chuyện ngược đời, hiếm khi xảy ra.

     * Chó chê nhà dột ra nằm bụi tre: Chê bai chuyện tiêu cực nhưng lại gặp phải vấn đề tồi tệ hơn.

     * Chó chê mèo rậm/lắm lông: Hay chê bai người khác mà không thấy điều xấu, điều dở của chính mình.

     * Chó chết hết chuyện: 1. Không còn kẻ hay gây chuyện thì không còn việc gì lôi thôi; 2. Vấn đề cuối cùng hoặc quan trọng nhất đã kết thúc.

     * Chó chui gầm chạn/tủ lạnh: 1. Thân phận nghèo hèn, mất chủ quyền, phải cam chịu nhẫn nhục nương nhờ vào thế lực, tài sản của người khác (thường dùng nói việc đi ở rể); 2. Chê kẻ ác đã bị thất thế, phụ thuộc, chẳng còn hại gì được ai.

* Chó chực máu giác/chuồng chồ: Miệt thị kẻ cam tâm chờ đợi để kiếm chút lợi lộc bẩn thỉu.

     * Chó có chê phân thì người mới chê tiền: Không ai chê những thứ quan trọng, cần thiết với mình.

     * Chó có/mặc váy lĩnh: 1. Đua đòi, ăn chơi kệch cỡm, nực cười; 2. Chuyện phi lý, hoang đường.

* Chó con không sợ hổ: Không sợ hãi vì hoàn toàn không ý thức được nguy cơ đối với mình.

     * Chó cùng nhà, gà cùng chuồng: Những người có quan hệ thân thích, gần gũi phải biết thương yêu, đùm bọc nhau.

     * Chó cùng rứt dậu: Xử sự liều lĩnh, làm bậy khi bị đẩy đến bước đường cùng.

     * Chó cụp/cụt tai: Kẻ bị thua phải rút lui thảm hại, nhục nhã

     * Chó dại có mùa, người dại quanh năm: Người ngốc, người dại lúc nào cũng có.

* Chó dắt: Người gặp may, vớ bở bất ngờ.

* Chó dữ mất láng giềng: Có những vật nuôi, đồ đạc nguy hiểm sẽ khiến hàng xóm, người thân e sợ, cảnh giác và xa lánh.

     * Chó dữ (dùng) xích ngắn/cùm to: Tùy đối tượng mà có cách xử lý, khống chế.

     * Chó đá vẫy đuôi: Chuyện phi lý, không có thực.

* Chó đen ăn vụng, chó trắng chịu đòn: Kẻ gây sai phạm để người thân chịu oan, gánh hậu quả.

     * Chó đen giữ/một mực: Ngoan cố, không chịu sửa chữa tật xấu, không chịu hối cải.

* Chó đen quen ngõ: Quen thói, hành động theo bản tính hoặc thông lệ.

* Chó đéo ta đây: Giễu kẻ hợm hĩnh, làm bộ làm tịch, dương dương tự đắc.

* Chó đói mới chịu giữ nhà: Người nghèo, yếu đuối, thất thế mới chịu làm, chấp nhận công việc hèn kém.

* Chó gầy hổ mặt người nuôi: Chỉ cần nhìn vật nuôi cũng ít nhiều đánh giá được người chủ như thế nào.

     * Chó ghẻ có mỡ đằng đuôi: Đã xấu kém lại còn kiêu ngạo, hợm hĩnh.

* Chó già, gà non: Độ tuổi làm thực phẩm ngon nhất của chó và gà.

* Chó già giữ xương: 1. Người càng cao tuổi càng bảo thủ, giữ quan điểm và bản sắc của mình; 2. Chê người tham lam, không kham nổi mà vẫn cố giữ, không chịu buông ra cho người khác.

* Chó giống cha, gà giống mẹ: Hình thức giống bố mẹ của chó và gà con.

* Chó giữ nhà, gà gáy trống canh: Mỗi người một phận sự, nhiệm vụ, ai làm việc nấy, không nên ganh tỵ, suy bì.

* Chó hùa đàn: Ỷ thế đông người lấn át, bắt nạt kẻ yếu đuối, đơn độc.

* Chó ị bàn cờ dơ mặt tướng: Việc làm xấu, bừa bãi của cấp dưới sẽ khiến cấp trên bị ảnh hưởng tiêu cực, phải chịu trách nhiệm.

* Chó ị bờ giếng không sao, chó ị bờ ao người ta cắt cổ: Giễu sự trớ trêu là kẻ có tội thì không sao, còn người mắc lỗi nhỏ lại bị trừng trị, chịu tai họa.

     * Chó khô, mèo lạc/Mèo đàng, chó điếm: Loại người lang thang, vớ vẩn, bất lương.

* Chó khôn/tinh chẳng sủa chỗ không: Người từng trải luôn có mục tiêu, mục đích chắc chắn và rõ ràng.

* Chó khôn tha phân ra bãi, chó dại tha phân về nhà: Chế giễu việc làm ngu ngốc, dại dột của ai đó.

* Chó lê trôn, gà gáy gở: Quan niệm về điềm xấu, báo hiệu điều dữ sắp xảy đến khi thấy chó và gà có biểu hiện bất thường.

     * Chó liền da, gà liền xương: 1. Chó, gà bị thương thì nhanh khỏi, không có gì nguy hiểm; 2. Vết thương mau lành.

     * Chó nào ăn được phân thuyền chài: Không thể kiếm chác được gì ở những nơi người ta không hề có sơ hở.

     * Chó ngáp phải ruồi: 1. Gặp may một cách ngẫu nhiên, hiếm có; 2. Chuyện hú họa, chẳng mấy khi xảy ra.

     * Chó ngồi/nhảy bàn độc: Kẻ bất tài, yếu kém mà lại được địa vị cao sang.

* Chó nhà nào sủa nhà ấy: Hãy nên lo việc của mình, đừng xía vào chuyện người khác.

     * Chó nhà quê đòi ăn mắm mực: Ở địa vị thấp kém mà đòi hưởng những thứ cao sang.

     * Chó quen nhà, gà quen chuồng: Biết nhớ, biết tìm về nơi chốn mình sinh sống.

     *Chó săn/máy, chim mồi: Kẻ xấu, làm tay sai cho người khác.

* Chó sói đội lốt cừu: Nham hiểm, độc ác nhưng lai giả dạng lành thiện, ngoan hiền.

     * Chó sống còn hơn sư tử chết: Có được quyền nhỏ còn hơn hư danh lớn.

     * Chó sủa trăng/ma: Chửi vu vơ, chửi mò vì không biết điều gì cụ thể.

* Chó sủa là chó không cắn: Giễu người hay nói mà không/ít làm hoặc làm không được.

     * Chó tha đi, mèo tha lại: Ít giá trị, bị chê bai, ruồng bỏ, bị đùn đẩy qua tay nhiều người.

* Chó tháng ba, gà tháng bảy: Kinh nghiệm ăn uống cho rằng tháng ba và tháng bảy (âm lịch) là tháng giáp hạt, chó và gà đều gầy, ăn không ngon.

     * Chó treo, mèo đậy: Phải được giữ gìn, bảo quản kín đáo, chắc chắn.

* Chó xơi mướp nướng/Cẩu xực mướp lùi: Bất ngờ dùng phải những thứ nguy hại, rất không phù hợp.

* Có đểu mới có, có chó mới giàu: Bao biện, thanh minh, nói vui cho những điều tiêu cực.

     * Có phân thì có chó: Hệ lụy, hậu quả tất yếu xảy ra.

* Có tiền chó hóa kỳ lân, không tiền kỳ lân hóa chó: Sức mạnh của đồng tiền có thể làm thay đổi, đảo ngược địa vị.

     * Chơi/yêu/đùa nhờn (với) chó, chó liếm mặt: Quá dễ dãi, xuề xòa, thân mật với kẻ xấu, người dại nên bị nhờn, bị đùa giỡn thô lỗ.

     * Chực như chó chực cối/máu giác: Mong chờ, chầu chực để được hưởng một chút gì.

     * Chửi chó mắng mèo/Chửi mèo quèo chó: Mượn cớ mắng chửi cái khác nhằm biểu hiện sự tức giận đối với người nào đó.

     * Chửi như chó ăn vã mắm: Chửi nhiều, chửi tới tấp, xối xả.

* Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nhà nghèo: Xử sự, thói quen hoặc đức tính tích cực, phù hợp của người bề dưới, người phụ thuộc.

     * Đánh chó phải nể chủ/Đánh chó ngó chúa: Xử sự có hại đến cái gì, người nào thì phải dè chừng nhân vật sở hữu, bảo trợ cho cái đó, người ấy.

     * Đánh chó đá vãi phân: Bất tài, vô tích sự mà còn khoe khoang, hợm hĩnh.

* Đen như mõm chó: 1. Đen và nhẵn, ướt; 2. Vận hạn gặp lúc đen đủi.

* Đi tu Phật bắt ăn chay, thịt chó ăn được thịt cầy thì không: Chế giễu sự tu hành giả tạo, nửa mùa.

     * Đồ/Loại chó chết: Lời miệt thị kẻ khốn nạn, thấp hèn.

* Đừng khinh chó, chớ cậy giàu: Lời khuyên phải cư xử khiêm nhường, nhã nhặn với kẻ yếu, người nghèo.

     * Gà què bị chó đuổi: Kẻ yếu đuối lại bị tai nạn dồn dập.

     * Hàm chó, vó ngựa: 1. Phương tiện tấn công, tự vệ đặc thù của động vật; 2. Những thứ dễ gây nguy hiểm, nên tránh.

     * Không có chó bắt mèo ăn phân: 1. Buộc phải thay thế dù biết rằng không phù hợp; 2. Làm chuyện ngược đời.

* Khuyển mã chí tình: Chó và ngựa (vốn) rất trung thành, tình cảm với chủ nuôi.

* Lạc đàn nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu: Kinh nghiệm tìm đường nhờ vật nuôi.

* Làm người thì khó, làm chó thì dễ: Quan niệm về sự phức tạp của cuộc sống con người so với động vật khác.

     * Lang lảng như chó cái trốn con: Lảng tránh, không muốn gặp ai để tránh phiền toái, ví như chó mẹ trốn đàn con nhỏ đang đòi bú.

     * Làu bàu/lầu bầu như chó hóc xương: Nói nhỏ, lầm bầm trong miệng với vẻ bực tức, khó chịu.

     * Lên voi xuống chó: Sự thay đổi địa vị đột ngột.

* Loại trâu sinh chó đẻ: Lời chửi rủa thậm tệ.

* Loanh quanh như chó nằm chổi: Dò xét, cân nhắc xung quanh trước khi thực hiện công việc chính, trung tâm (chó trước khi nằm lên chổi quét thường đi loanh quanh mấy vòng).

* Lõm bõm như chó nhảy ruộng nước: Tiếng bì bõm ngắt quãng giống âm thanh của chó khi lội và nhảy qua những vùng nước nông.

* Lòng lang dạ sói: Nham hiểm, độc ác và phản bội, không chung thủy.

* Lơ láo như chó thấy thóc: Ngỡ ngàng nhưng thờ ơ trước những vật, những việc không liên quan đến mình.

* Lợn rọ, chó thui: Không thể biết hoặc đánh giá đúng nếu sự vật, hiện tượng đã được sửa chữa, trang điểm, che đậy.

     * Mang chết chó cũng lè lưỡi: Làm hại được người khác thì mình cũng thiệt thòi, mất mát, ví như chó cắn chết được rắn hổ mang thì cũng dễ mất mạng.

* Mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì sang: Một quan niệm tín ngưỡng về vận may rủi liên quan với mèo và chó.

* Nai vạc móng thì chó cũng lè lưỡi: Cãi vã, kiện tụng, đấu đá thì cuối cùng đều gây tổn thất cho cả bên thắng lẫn bên thua.

* Nắng tháng ba chó già lè lưỡi: Thời tiết oi nồng cuối xuân đầu hạ (tháng 3 âm lịch) rất khó chịu.

     * Ngay lưng như chó trèo chạn: Lười biếng, không chịu làm việc.

* Ngồi như chó ngó tát ao: Hiếu kỳ, tò mò nhưng không hiểu gì.

* Ngồi xó ró như chó tiền rưỡi: Ngồi co rúm lại như không còn chút sức lực nào nữa.

* Ngu như chó: Quá ngu ngốc.

     * Nhục như con chó: Nhục nhã quá mức, như tư cách, thân phận hèn kém của con chó.

* Nói dai như chó nhai giẻ rách: Nói đi nói lại, dấm dẳn và dai dẳng (về một vấn đề gì đó).

     * Quăng xương cho chó cắn nhau/Xuỵt chó bụi rậm: Cơ hội, ma lanh, gây mất đoàn kết hoặc xui dại những người khác để mình hưởng lợi.

* Ráng mỡ gà thì gió, ráng mỡ chó thì mưa: Nhìn màu ráng trời có thể đoán biết thời tiết sắp tới.

* Rậm rật như chó tháng bảy: Nhộn nhạo, hỗn loạn do hứng thú quá mức (chó động dục mạnh nhất vào tháng 7 âm lịch và khi đó chó đực thường tranh giành chó cái nên chúng cắn lộn nhau, sủa ầm ĩ).

* Sống được miếng dồi chó, thác được bó vàng tâm: Chê người quá tham lam và cầu toàn.

* Sống trên đời ăn miếng dồi chó, chết xuống âm phủ biết có hay không: Miếng ngon chỉ có ở trên đời thực/trần gian.

     * Thắt cổ mèo treo cổ chó: Hà tiện quá mức, như người chủ hạn chế cả việc cho ăn thường ngày những con thú mình nuôi.

     * Thính như mũi chó: Rất mẫn cảm, tinh nhạy.

* Thịt chó chấm nước chó: Phải sử dụng ngay nguồn sẵn có vì không còn có gì hơn.

* Thui chó nửa mùa hết rơm: Phê phán sự thiếu chuẩn bị chu đáo trước khi làm một việc gì.

     * Trâu đeo mõ, chó leo thang: Thuộc vùng miền núi hẻo lánh (người dân thường ở nhà sàn, và cho trâu mình nuôi đeo mõ để dễ tìm nếu chúng đi xa, đi lạc vào rừng).

     * Treo (đầu) dê bán (thịt) chó: Bịp bợm, phô trương, giả danh giả hiệu cái tốt đẹp để che giấu, để làm điều xấu xa.

     * Voi đú, chó đú, lợn sề cũng hộc: Đua đòi, bắt chước kẻ khác đến độ nhố nhăng, lố bịch, nực cười.

Source: https://thaiphuongthuy.com
Category : Blog

Related Posts

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *