Nghiệp vụ thị trường mở (Open Market Operations) là gì?

Nghiệp vụ thị trường mở ( tiếng Anh : Open Market Operations ) tương quan đến việc ngân hàng nhà nước TW mua và bán sàn chứng khoán. Giao dịch sàn chứng khoán của ngân hàng nhà nước TW làm đổi khác cơ sở tiền .finanzielle-diagramm-spalten-von-munzen-und-wurfel-wurfeln-mit-den-worten-zu-verkaufen-kaufen-selektiven-fokus-d802ey-cropHình minh họa. Nguồn : alamy.de

Nghiệp vụ thị trường mở (Open Market Operations)

Định nghĩa

Nghiệp vụ thị trường mở trong tiếng Anh gọi là Open Market Operations, viết tắt: OMO. Nghiệp vụ thị trường mở là các biện pháp thực thi chính sách tiền tệ mà theo đó ngân hàng trung ương của một nước kiểm soát cung tiền của nước đó bằng cách mua bán các chứng khoán do chính phủ phát hành hoặc các công cụ tài chính khác.

Ý nghĩa

Nghiệp vụ thị trường mở là công cụ quan trọng nhất của chính sách tiền tệ. Nghiệp vụ này là yếu tố quyết định quan trọng nhất đối với những thay đổi trong lượng tiền cơ sở.

Việc mua hoặc bán trái phiếu trên thị trường mở làm tăng, giảm cơ số tiền tệ, do đó làm tăng hoặc giảm lượng đáp ứng tiền tệ .

Mô tả nghiệp vụ

Khi mua sàn chứng khoán từ bất kể người bán nào, ngân hàng nhà nước TW trả tiền bằng cách phát hành séc. Khi người bán gửi séc trong thông tin tài khoản ngân hàng nhà nước của mình, ngân hàng nhà nước xuất trình séc cho ngân hàng nhà nước TW để thanh toán giao dịch .

Đến lượt mình, ngân hàng trung ương nhận séc bằng cách tăng tài khoản dự trữ cho ngân hàng của người bán tại ngân hàng trung ương. Dự trữ tại ngân hàng của người bán tăng mà không được bù đắp ở đâu đó. Kết quả là, tổng lượng cơ sở tiền tăng lên. Điều hoàn toàn trái ngược xuất hiện khi ngân hàng trung ương bán chứng khoán. Việc thanh toán làm giảm dự trữ của người mua ở ngân hàng trung ương mà không được bù đắp ở đâu đó, và do đó cơ sở tiền giảm. Đặc tính này – sự thay đổi trực tiếp cơ sở tiền khi ngân hàng trung ương mua hoặc bán chứng khoán – làm cho hoạt động thị trường mở trở thành công cụ chính xác, linh hoạt và hiệu quả nhất của chính sách tiền tệ.

Về mặt lí thuyết, ngân hàng nhà nước TW hoàn toàn có thể đáp ứng hoặc thu về cơ sở tiền trải qua những thanh toán giao dịch với bất kỳ loại gia tài nào trên thị trường mở. Tuy nhiên, trong trong thực tiễn hầu hết những loại gia tài không được chuẩn bị sẵn sàng trao đổi để thích ứng với hoạt động giải trí thị trường mở .Để những hoạt động giải trí này diễn ra một cách có hiệu suất cao, ngân hàng nhà nước TW cần phải mua và bán một cách nhanh gọn, thuận tiện một khối lượng bất kể để giữ cung về cơ sở tiền tương thích với những tiềm năng của chủ trương tiền tệ trong mỗi thời kì .

Các điều kiện này đòi hỏi các công cụ mà ngân hàng trung ương mua hoặc bán được trao đổi trên một thị trường chung rất linh hoạt, đồng thời chúng có thể đáp ứng các giao dịch mà không làm bóp méo hay đổ vỡ thị trường. 

Ở hầu hết những vương quốc, trái phiếu cơ quan chính phủ thường được ngân hàng nhà nước TW sử dụng để thanh toán giao dịch trên thị trường mở .

Liên hệ thực tiễn

Từ tháng 7/2000, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chính thức khai trương nghiệp vụ thị trường mở. Thị trường mở cũng được xác định là một công cụ chủ yếu trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước. Doanh số giao dịch các giấy tờ có giá trên thị trường mở tăng nhanh qua các năm. Từ tháng 11/2004, giao dịch thị trường mở được thực hiện định kì 3 phiên/tuần.

(Tài liệu tham khảo Giáo trình Kinh tế học, NXB Đại học Kinh tế quốc dân)

Source: https://thaiphuongthuy.com
Category : Blog

Related Posts

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.