Hồ Hoàn Kiếm – Wikipedia tiếng Việt

Hồ Hoàn Kiếm (chữ Nôm: 湖還劍 hoặc 還劍湖) còn được gọi là Hồ Gươm là một hồ nước ngọt tự nhiên nằm ở trung tâm thành phố Hà Nội. Hồ có diện tích khoảng 12 ha[2]. Trước kia, hồ còn có các tên gọi là hồ Lục Thủy (vì nước có màu xanh quanh năm), hồ Thủy Quân (dùng để duyệt thủy binh), hồ Tả Vọng và Hữu Vọng (trong thời Lê mạt).
Tên gọi Hoàn Kiếm xuất hiện vào đầu thế kỷ 15 gắn với truyền thuyết vua Lê Lợi trả lại gươm thần cho Rùa thần. Theo truyền thuyết, trong một lần vua Lê Thái Tổ dạo chơi trên thuyền, bỗng một con rùa vàng nổi lên mặt nước đòi nhà vua trả thanh gươm mà Long Vương cho mượn để đánh đuổi quân Minh xâm lược. Nhà vua liền trả gươm cho rùa thần và rùa lặn xuống nước biến mất. Từ đó hồ được lấy tên là hồ Hoàn Kiếm. Tên hồ còn được lấy để đặt cho một quận trung tâm của Hà Nội (quận Hoàn Kiếm) và là hồ nước duy nhất của quận này cho đến ngày nay.

Hồ Hoàn Kiếm có vị trí liên kết giữa thành phố cổ gồm những phố Hàng Ngang, Hàng Đào, Cầu Gỗ, Lương Văn Can, Lò Sũ … với thành phố Tây do người Pháp quy hoạch cách đây hơn một thế kỷ là Bảo Khánh, Nhà thờ, Tràng Thi, Hàng Bài, Đinh Tiên Hoàng, Tràng Tiền, Hàng Khay, Bà Triệu .
Hồ Hoàn Kiếm với Tháp Rùa
Cách đây khoảng chừng 6 thế kỷ, dựa theo map thời Hồng Đức thì hầu hết xung quanh kinh thành khi ấy là nước. Hồ Hoàn Kiếm là một phân lưu sông Hồng chảy qua vị trí của những phố ngày này như Hàng Đào, Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Hàng Chuối. Tiếp đó đổ ra nhánh chính của sông Hồng [ 3 ]. Nơi rộng nhất phân lưu này hình thành nên hồ Hoàn Kiếm lúc bấy giờ .

Thời Lê Trung Hưng (thế kỷ 16), khi chúa Trịnh cho chỉnh trang Hoàng thành Thăng Long để vua Lê ở đã đồng thời xây dựng phủ chúa riêng nằm ngay bên ngoài Hoàng thành. Phủ Chúa trở thành một cơ quan trung ương thời bấy giờ với những công trình kiến trúc xa hoa như lầu Ngũ Long (dùng để duyệt quân) nằm ở bờ Đông hồ Hoàn Kiếm, đình Tả Vọng trên đảo Ngọc Sơn. Năm 1728 Trịnh Giang cho đào hầm ở vị trí phía Nam hồ để xây dựng cung điện ngầm gọi là Thưởng Trì cung.

Chúa Trịnh cho ngăn hồ lớn thành hồ Tả Vọng và Hữu Vọng. Hồ Hữu Vọng được dùng làm nơi duyệt quân thủy chiến của triều đình. Đến đời Tự Đức ( 1847 – 1883 ), hồ Hữu Vọng được gọi là hồ Thủy Quân, còn hồ Tả Vọng chính là hồ Hoàn Kiếm. Từ năm 1884, nhà nước bảo lãnh Pháp cho lấp hồ Thủy Quân để thiết kế xây dựng, mở mang TP.HN .

Truyền thuyết Lê Lợi trả gươm Rùa thần[sửa|sửa mã nguồn]

Sách Lam Sơn thực lục của Nguyễn Trãi có chép là :

Khi ấy Lê Thái Tổ cùng người ở trại Mục sơn là Lê Thận cùng làm bạn keo sơn. Thận thường làm nghề quăng chài. Ở xứ vực Ma viện, đêm thấy đáy nước sáng như bó đuốc soi. Quăng chài suốt đêm, cá chẳng được gì cả. Chỉ được một mảnh sắt dài hơn một thước, đem về để vào chỗ tối. Một hôm Thận cúng giỗ (ngày chết của cha mẹ), nhà vua tới chơi nhà. Thấy chỗ tối có ánh sáng, nhận ra mảnh sắt, nhà vua bèn hỏi:

– Mảnh sắt nào đây?

Thận nói:

Đêm trước tôi quăng chài bắt được.

Nhà vua nhân xin lấy. Thận liền cho ngay. Nhà vua đem về đánh sạch rỉ, mài cho sáng, thấy nó có chữ “Thuận Thiên”, cùng chữ “Lợi”.Lại một hôm, nhà vua ra ngoài cửa, thấy một cái chuôi gươm đã mài-dũa thành hình, nhà vua lạy trời khấn rằng:

Nếu quả là gươm trời cho, thì xin chuôi và lưỡi liền nhau!

Bèn lấy mảnh sắt lắp vào trong chuôi, thành ra một chiếc gươm hoàn chỉnh.
Tới hôm sau, hoàng hậu ra trông vườn cải, bỗng thấy bốn vết chân của người lớn, rất rộng, rất to. Hoàng hậu cả kinh, vào gọi nhà vua ra vườn, được quả ấn báu, lại có chữ Thuận Thiên (sau lấy chữ này làm niên hiệu) cùng chữ Lợi. Nhà vua thầm biết ấy là của trời cho, lòng lấy làm mừng, giấu giếm không nói ra. [4]

Truyền thuyết này được đưa vào nội dung sách giáo khoa của Nước Ta và được viết tiếp đoạn sau, nói về việc Lê Lợi dùng thanh gươm báu đó làm gươm chiến đấu, xông pha chém địch nhiều trận, đánh tới đâu thắng tới đó, sau cuối đuổi quân Minh bỏ chạy về nước, Lê Lợi được tôn lên làm vua .

Đầu năm 1428, Lê Thái Tổ cùng quần thần bơi thuyền ra hồ Tả Vọng. Nhận lệnh Long Quân, rùa nổi lên mặt nước.Theo lệnh vua, thuyền đi chậm lại. Đứng ở mạn thuyền, vua thấy lưỡi gươm bên người tự nhiên động đậy.

Rùa tiến về thuyền vua và nói:

– Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân!

Vua nâng gươm hướng về phía Rùa Vàng. Nhanh như cắt, rùa há miệng đớp lấy thanh gươm và lặn xuống nước.

Từ đó, hồ Tả Vọng bắt đầu mang tên là Hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm [5]

Di tích lịch sử dân tộc[sửa|sửa mã nguồn]

Tháp Rùa
Cầu Thê Húc
Tháp Hoà Phong

Tượng vua Lê trả gươm cho rùa vàng

Hệ sinh vật sống trong hồ[sửa|sửa mã nguồn]

Rùa Hồ Hoàn Kiếm[sửa|sửa mã nguồn]

Rùa hồ Gươm có tên khoa học là Rafetus leloii, họ Ba Ba (Trionychidae) trong bộ Rùa (Testudies), lớp Sauropsida (Mặt thằn lằn). Rùa hồ Gươm gồm có bốn cá thể, cả bốn cá thể đều đã chết (một được lưu trong đền Ngọc Sơn, một lưu trong kho của Bảo tàng Hà Nội và một đã bị giết thịt năm 1962 – 1963 khi bò lên vườn hoa Chí Linh)

Là di sản vô giá gắn với những thần thoại cổ xưa lịch sử dân tộc và văn hóa truyền thống rất linh từ hàng ngàn năm nay .Năm 2011, rùa hồ Gươm, được biết chỉ còn một thành viên sống sót, thường được gọi là ” Cụ Rùa ” đã được trục vớt và trị chữa những vết thương .Ngày 19 tháng 1 năm năm nay, thành viên rùa Hồ Hoàn Kiếm ở đầu cuối đã chết .

Cảm hứng nghệ thuật và thẩm mỹ[sửa|sửa mã nguồn]

Tuy không phải là hồ lớn nhất trong Hà Nội Thủ Đô, song hồ Hoàn Kiếm đã gắn liền với đời sống và tâm tư nguyện vọng của nhiều người. Hồ nằm ở TT một Q. với những khu phố cổ chật hẹp, đã mở ra một khoảng chừng không đủ rộng cho những hoạt động và sinh hoạt văn hóa truyền thống địa phương. Hồ có nhiều cảnh đẹp .Và hơn thế, hồ gắn với huyền sử, là hình tượng khát khao tự do ( trả gươm cầm bút ), đức văn tài võ trị của dân tộc bản địa ( thanh kiếm thiêng nơi đáy hồ và tháp bút viết lên trời xanh ). Do vậy, nhiều văn nghệ sĩ đã lấy hình ảnh Hồ Hoàn Kiếm làm nền tảng cho những tác phẩm của mình .

Hồ cũng là nguồn cảm hứng cho nhiều nhà nhiếp ảnh, trong đó nổi tiếng nhất là nghệ sĩ Võ An Ninh

Nguyễn Khuyến xưa có bài thơ vịnh TP. hà Nội và Hồ Hoàn Kiếm biến dạng cách đây 100 năm như sau :

Cảm đề
Ba chục năm nay trở lại hồ
Bây giờ cảnh sắc khác ngày xưa
Nhà tranh đâu cả, toàn lầu gác
Súng lạ đì đòm tịt trúc tơ
Chim-chóc đi về lầm lối cũ
Cốc cò chiều tối ngủ sương mưa
Đáng thương văn vật trăm năm ấy
Còn lại bên hồ một đá trơ!

Nguyễn Khuyến

Hà Nội
Hà Nội có Hồ Gươm
Nước xanh như pha mực
Bên hồ ngọn Tháp Bút
Viết thơ lên trời cao

Trần Đăng Khoa – 1969

Rủ nhau xem cảnh Kiếm hồ,
Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn.
Đài nghiên, tháp bút chưa mòn,
Hỏi ai gây dựng nên non nước này?

Á Nam Trần Tuấn KhảiNghiên Bút Non Sông ( Nhạc và lời : Đình Dương ) Hãy viết lên trời cao hỡi Tháp bút kiêu hùng Kiêu hãnh ơi Nước Ta gan góc kiên cường Khí phách đó Hồ Hoàn Kiếm xanh thắm đến muôn đời Chiến tích xưa còn ghi thanh kiếm vẫn sáng ngời …
Có nhiều bài hát về TP.HN : Người Thành Phố Hà Nội, TP. Hà Nội niềm tin và kỳ vọng, Gửi người em gái, Chiều Hồ Hoàn Kiếm, v.v…

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Source: https://thaiphuongthuy.com
Category : Blog

Related Posts

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.