Tóm tắt nội dung chính, lập dàn ý phân tích, bố cục – Vợ nhặt – Kim Lân – Văn 12

Lựa chọn câu để xem giải thuật nhanh hơn- Có biệt tài miêu tả tâm ý nhân vật ; văn phong đơn giản và giản dị nhưng quyến rũ, mê hoặc ; ngôn từ sôi động, thân mật với lời ăn lời nói hàng ngày và mang đậm sắc tố nông thôn ; am hiểu và gắn bó thâm thúy về phong tục và đời sống làng quê Bắc Bộ .- Là cây bút chuyên viết truyện ngắn có sở trường viết về nông thôn và người nông dân .

– Sau đó liên tục hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng (viết văn, làm báo, diễn kịch, đóng phim).

– Do thực trạng mái ấm gia đình khó khăn vất vả, ông chỉ học hết tiểu học, rồi vừa làm thợ sơn guốc, khắc tranh bình phong, vừa viết văn .

II. Tác phẩm

1. Tóm tắt tác phẩm

Giữa lúc nạn đói đang hoành hành, Tràng ( một chàng trai bần hàn, lại là dân xóm ngụ cư ) dẫn một người đàn bà lạ về nhà khiến mọi người đều quá bất ngờ. Trước đó, chỉ hai lần gặp gỡ, với mấy câu đùa vu vơ, vài bát bánh đúc, Thị đã gật đầu theo Tràng về làm vợ. Về đến nhà, Tràng vẫn còn ngỡ ngàng. Mẹ Tràng từ kinh ngạc đến lo ngại, xót thương, rồi cũng mừng lòng tiếp đón nàng con dâu. Sáng hôm sau, vợ và mẹ Tràng dậy sớm thu dọn nhà cửa. Trông thấy cảnh tượng ấy, Tràng thấy yêu quý và gắn bó với mái ấm gia đình của mình. Trong bữa cơm ngày đói, nghe tiếng trống thúc thuế, hình ảnh đoàn người đi phá kho thóc và lá cờ đỏ hiện lên trong óc Tràng .

2. Tìm hiểu chung

a. Xuất xứ
– In trong tập Con chó xấu xí ( 1962 ) .
– Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết Xóm ngụ cư – được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng dang dở và thất lạc bản thảo. Sau khi tự do lập lại ( 1954 ), ông dựa vào một phần diễn biến cũ để viết truyện ngắn này .
b. Bố cục : ( 4 đoạn )
– Đoạn 1 ( từ đầu đến ” thành vợ chồng ” ) : Cảnh Tràng đưa cô vợ nhặt về nhà .
– Đoạn 2 ( tiếp theo đến ” cùng đẩy xe bò về ” ) : Hoàn cảnh Tràng và Thị trở thành vợ chồng .
– Đoạn 3 ( tiếp theo đến ” nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng ” ) : Tràng ra đời cô vợ nhặt với mẹ và nỗi lòng của bà cụ Tứ .
– Đoạn 4 ( còn lại ) : Bữa cơm tiên phong đón nàng dâu mới .

d. Ý nghĩa nhan đề

– Vợ là sự trân trọng, người vợ có vị trí TT để thiết kế xây dựng tổ ấm .
– Ở đây là nhặt được vợ, không phải lấy vợ đàng hoàng, có ăn hỏi cưới xin mà như nhặt được vật phẩm người ta đánh rơi hay quên .
→ Cái giá con người trở nên rẻ rúng. Đồng thời cũng cho thấy trong thực trạng khốn cùng con người ta vẫn luôn khao khát được sống niềm hạnh phúc, niềm tin đời sống trong họ thật mãnh liệt .
e. Ý nghĩa tình huống truyện
– Vợ nhặt đã kiến thiết xây dựng được một trường hợp truyện éo le, độc lạ, đau xót thấm đẫm tình người :
+ Anh Tràng – con nhà nghèo, xấu xí, ngây ngô, dân xóm ngụ cư bỗng dưng có vợ theo về mà lại là vợ nhặt trên đường trên chợ .
+ Việc Tràng có vợ khiến cả người dân xóm ngụ cư, bà cụ Tứ ( mẹ Tràng ) và cả chính Tràng cũng quá bất ngờ .
– Tình huống truyện là lời tố cáo chính sách thực dân, phát xít đã đẩy con người vào thực trạng khốn cùng, đồng thời mang giá trị nhân bản sâu sa dù thực trạng bi thảm đến đâu con người ta vẫn khao khát niềm hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng và tin yêu vào tương lai .

2. Tìm hiểu chi tiết

a. Nhân vật Tràng

* Giới thiệu:

– Xuất thân : Tràng – con nhà nghèo, nhà có 2 mẹ con, dân xóm ngụ cư, làm nghề kéo xe thuê .
– Ngoại hình : đầu cao, sống lưng to bè, 2 con mắt nhỏ tí, ngà ngà đắm vào bóng chiều, 2 bên quai hàm bạnh ra, … => xấu xí, thô kệch .
– Ngôn ngữ : thô kệch, cộc cằn “ rích bố cu “, ” làm đếch gì có vợ, … ”

Vẻ đẹp tâm hồn:

– Tràng là một người có tâm hồn thuần hậu, hiền lành, chất phác : trẻ con trong xóm ai cũng thích, …
– Tâm hồn sáng sủa, yêu đời : vừa lao động vừa hò hát, hay đùa với trẻ con
– Tấm lòng nhân hậu : giữa lúc đói khát, Tràng đã dang tay cứu vớt một cuộc sống, chuẩn bị sẵn sàng cho người đàn bà lạ lẫm ăn, thậm chí còn không phủ nhận khi người đàn bà theo về. Tấm lòng nhân hậu ấy đa phần được biểu lộ trải qua diễn biến tâm trạng của Tràng khi nhặt được vợ :
+ Khi về đến nhà :
> Xăm xăm bước vào quét dọn sơ qua, thanh minh về sự bừa bộn vì thiếu bàn tay của đàn bà. Hành động ngượng nghịu nhưng chân thực, mộc mạc .
> Khi bà cụ Tứ chưa về, Tràng có cảm xúc “ sờ sợ ” vì lo rằng người vợ sẽ bỏ đi vì gia cảnh quá khó khăn vất vả, sợ niềm hạnh phúc sẽ tuột khỏi tay .
> Sốt ruột chờ mong bà cụ Tứ về để thưa chuyện vì trong cảnh đói khổ vẫn phải nghĩ đến quyết định hành động của mẹ. Đây là bộc lộ của đứa con biết lễ nghĩa .
> Khi bà cụ Tứ về : thưa chuyện một cách trịnh trọng, biện minh nguyên do lấy vợ là “ phải duyên ”, căng thẳng mệt mỏi mong mẹ vun đắp. Khi bà cụ Tứ tỏ ý mừng lòng Tràng thở phào, ngực nhẹ hẳn đi .
+ Sáng hôm sau, khi tỉnh dậy :
> Tràng nhận thấy sự đổi khác kì khôi của ngôi nhà ( sân vườn, quần áo, … ), Tràng nhận ra vai trò và vị trí của người đàn bà trong mái ấm gia đình. Cũng thấy mình trưởng thành hơn .
> Lúc ăn cơm trong tâm lý của Tràng là hình ảnh đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới. Đó là hình ảnh báo hiệu sự đổi đời, con đường đi mới .

→ Từ khi nhặt được vợ, nhân vật đã có sự biến đổi theo chiều hướng tốt đẹp. Qua sự biến đổi này, nhà văn ca ngợi vẻ đẹp của những con người trong cái đói.

b. Nhân vật Thị

* Giới thiệu:

– Không có quê nhà, mái ấm gia đình .
– Tên tuổi cũng không có và qua tên gọi “ vợ nhặt ” → thấy được sự rẻ rúng của con người trong cảnh đói .
– Ngoại hình : ” quần áo tả tơi như tổ đỉa “, ” gầy sọp “, ” khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn hai con mắt ” → xấu xí .

* Vẻ đẹp tâm hồn:

– Có khát vọng sống mãnh liệt :
+ Quyết định theo Tràng về làm vợ dù không biết gì về Tràng, đồng ý theo không về không cần sính lễ vì Thị sẽ không còn phải sống cảnh long dong đầu đường xó chợ .
+ Khi đến nhà thấy thực trạng nghèo khó, trái ngược lời công bố “ rích bố cu ”, Thị “ nén một tiếng thở dài ”, dù ngao ngán nhưng vẫn chịu đựng để có thời cơ sống .
– Thị là người ý tứ và nết na :
+ Trên đường về, Thị cũng rón rén, e thẹn đi sau Tràng, đầu hơi cúi xuống, Thị ngại ngùng cho thân phận vợ nhặt của mình .
+ Khi vừa về đến nhà, Tràng đon đả mời ngồi, chị ta cũng chỉ dám ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, bộc lộ sự ý tứ khi chưa xác lập được vị trí trong mái ấm gia đình .
+ Khi gặp mẹ chồng, ngoài câu chào, Thị chỉ cúi đầu, “ hai tay vân vê tà áo đã rách nát bợt ”, bộc lộ sự lúng túng, ngượng nghịu .
+ Sáng hôm sau, Thị dậy sớm quét tước nhà cửa, không còn cái vẻ “ chao chát, chỏng lỏn ” mà hiền hậu, đúng mực .
+ Lúc ăn cháo cám, mới nhìn “ mắt thị tối lại ”, nhưng vẫn ” điềm nhiên và vào miệng “, biểu lộ sự nể nang, ý tứ trước người mẹ chồng, không muốn làm bà buồn .
→ Cái đói hoàn toàn có thể cướp đi nhân phẩm trong khoảnh khắc nào đó chứ không vĩnh viễn cướp đi được tâm hồn con người .
– Thị còn là người có niềm tin vào tương lai : kể chuyện phá kho thóc trên Thái Nguyên, Bắc Giang để thắp lên hy vọng cho cả mái ấm gia đình, đặc biệt quan trọng là cho Tràng .
c. Nhân vật bà cụ Tứ

* Giới thiệu:

– Xuất hiện với hình dáng già nua, dáng đi lọng khọng, tiếng ho húng hắng, vừa đi, vừa lẩm nhẩm thống kê giám sát .

* Vẻ đẹp tâm hồn:

– Bà cụ Tứ là người mẹ nghèo, lam lũ nhưng có tấm lòng nhân hậu. Điều này được bộc lộ trải qua việc nhà văn Kim Lân đặt nhân vật vào một trường hợp : trong nạn đói bỗng dưng Tràng đưa một người phụ nữ lạ mặt về nhà .
– Diễn biến tâm trạng của bà cụ Tứ khi đó :
> Ngạc nhiên vì thấy có người đàn bà lạ ở trong nhà ( hàng loạt câu hỏi đặt ra trong đầu bà ) .
> Bà càng kinh ngạc hơn khi người đàn bà đó chào bà bằng “ u ” .
> Đến khi Tràng phân trần thì bà đã hiểu : vừa đau đớn, tủi cực, vừa xót xa xen lẫn vui mừng → bà lão đã lan rộng ra tấm lòng để đảm nhiệm con dâu và thương cho cảnh ngộ của thị .
– Bà là người luôn nhen nhóm niềm tin vào tương lai cho cách con : Sáng hôm sau bà rạng rỡ hẳn lên ( bà sắp xếp nhà cửa cho quang cảnh nề nếp với ý nghĩ đời sẽ khác đi, làm ăn mới khấm khá lên, bàn định về tương lai, khơi dậy cho con cháu niềm hy vọng mãnh liệt vào đời sống )
→ Tình cảm của bà cụ Tứ so với con không chỉ là tình mẫu tử cao đẹp mà còn biểu lộ đạo lý tốt đẹp giữa con người với con người, đó là sự nuôi nấng, che chở lẫn nhau của những con người cùng cảnh ngộ .
d. Giá trị nội dung
– Giá trị hiện thực : Cho thấy một thảm cảnh thê thảm của những con người nghèo trong nạn đói 1945 do phát xít Nhật và thực dân Pháp gây nên .
– Giá trị nhân đạo :
+ Tố cáo tội ác của bọn thực dân phát xít .
+ Thể hiện lòng cảm thông thâm thúy so với số phận con người trong nạn đói .
+ Là bài ca ca tụng sự sống, tình thương, sự nuôi nấng, đùm bọc, khát vọng niềm hạnh phúc .
+ Tác phẩm chỉ ra con đường giải phóng cho những con người nghèo khó : chỉ hoàn toàn có thể đi theo cách mạng để tự giải phóng, để thoát khỏi đói nghèo cơ cực .
e. Giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ
+ Cách kể chuyện giản dị và đơn giản nhưng rất có duyên, rất hấp dẫn .
+ Tình huống truyện độc lạ, éo le vừa nghịch lý lại vừa hài hòa và hợp lý .
+ Đối thoại sinh động như lời ăn lời nói hàng ngày ở những làng quê .

+ Miêu tả tâm lý nhân vật tự nhiên, tinh tế, chân thực, cá thể hóa logic, hợp lý.

Sơ đồ tư duy – Tác phẩm Vợ nhặt

Source: https://thaiphuongthuy.com
Category : Blog

Related Posts

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.